MỘT SỐ BÀI TẬP LỚN CÁ NHÂN ĐÃ NỘP LỚP DHGDTH - L2 - AB -AG
BÀI TẬP 1 BTL PHAT TRIEN NANG LUC DH TOÁN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON
HỌC PHẦN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC TOÁN TIỂU HỌC
TÊN ĐỀ TÀI
“PHÉP TRỪ CÓ NHỚ TRONG PHẠM VI 20”
Tiểu luận kết thúc học phần
Học phần: Phát triển năng lực dạy học toán tiểu học
Ngành: Giáo dục tiểu học
Giảng viên hướng dẫn: TS. Phạm Thị Kim Châu
Học viên thực hiện:
LÊ TẤN ĐỨC MSSV: 5120440151
Lớp: ĐHGDTH20-L2-AG SỐ THỨ TỰ:151.
AN GIANG, NĂM 2022
ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN
|
|
Điểm chấm |
|
HÌNH THỨC (1,0 điểm) |
|
|
MỞ ĐẦU |
|
|
1. Lí do chọn chủ đề (0,5 điểm) |
|
|
2. Mục tiêu đề tài (0,5 điểm) |
|
|
NỘI DUNG |
|
|
1. Một số vấn đề về NL DH toán tiểu học (1,0 điểm) |
|
|
2. PP và HT tổ chức DH (1,0 điểm) |
|
|
3. Nội dung và yêu cầu cần đạt của chủ đề (1,0 điểm) |
|
|
4. Kế hoạch bài dạy (2 bài hoặc 2 tiết, 2 điểm/1 bài hoặc 1 tiết) |
|
|
5. Phân tích cơ hội phát triển NL DH toán tiểu học thông qua bài soạn (0,5 điểm/1 bài) |
|
|
Điểm tổng:
|
|
|
|
Đồng Tháp, ngày ……tháng …..năm 2022 Giảng viên chấm (ký và ghi rõ họ tên)
|
Phạm Thị Kim Châu
PHẦNMỞ ĐẦU
1. Lí do chọn chủ đề“ Phép trừ có nhớ trong phạm vi 20 ”
Chương trình Toán ở lớp 2 là một bộ phận của chương trình toán tiểu học và là sự kế thừa những kiến thức trọng tâm của chương trình toán lớp 1. Chương trình này được thiết kế theo hướng đồng tâm, kế thừa và phát triển những dạng toán từ cơ bản đến nâng cao theo từng lớp học.
Chương trình toán lớp 2 ở Tiểu học bao gồm nhiều chủ đề trọng tâm, trong đó chủ đề “ Phép trừ có nhớ trong phạm vi 20” là một trong những chủ đề cơ bản và không kém phần quan trọng.
Với chủ đề này, học sinh tập làm quen với việc trừ có nhớ trong phạm vi 20, làm quen cách tính toán, phân biệt trừ có nhớ với trừ không có nhớ. Bên cạnh đó, học sinh cần nắm vững những kiến thức cơ bản, kết hợp phép tính trừ để giải bài toán có lời văn liên quan đến chủ đề này.
Đối với giáo viên, thông qua việc nghiên cứu chủ đề giúp giáo viên phát huy khả năng huy động tổng hợp giữa kiến thức, kĩ năng và thuộc tính cá nhân của mình để thực hiện có hiệu quả nội dung kiến thức liên quan đế chủ đề. Trong đó, bao gồm các thành phần năng lực như: năng lực thực hiện chương trình môn Toán tiểu học; năng lực thiết kế kế hoạch bài dạy theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh và năng lực kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Toán ở tiểu học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
2. Mục tiêu đề tài tiểu luận
Nghiên cứu sự phát triển năng lực dạy học “Phép trừ có nhớ trong phạm vi 20” thông qua việc lập kế hoạch bài dạy giúp giáo viên nắm được phương pháp dạy học các nội dung này theo hướng đổi mới về phương pháp dạy học Toán tiểu học, nghiên cứu sâu về nội dung chương trình, bồi dưỡng cho giáo viên năng lực xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng phát huy năng lực học tập cho học sinh, giúp giáo viên tìm giải pháp tốt nhất để hướng dẫn học sinh học tốt chủ đề này. Đồng thời, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, kĩ năng dạy học cho bản thân mình và đồng nghiệp .
PHẦN NỘI DUNG
1. Một số vấn đề về năng lực dạy học toán tiểu học
1.1. Quan niệm
- Năng lực dạy học là một thành tố của năng lực sư phạm,bao gồm các năng lực thành phần: năng lực chuẩn bị, năng lực thực hiện, và năng lực tự đánh giá.
- Năng lực nghề nghiệp của giáo viên tiểu học được cấu thành bởi các năng lực: năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực giao tiếp và năng lực phát triển chuyên môn của bản thân. Trong đó năng lực chuyên môn nghiệp vụ là một trong những năng lực có giá trị quyết định chất lượng thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục ở trường tiểu học.
- Năng lực dạy học toán của giáo viên tiểu học được hiểu là năng lực nghề dạy học bộ môn toán. Với quan điểm này, năng lực dạy học toán là khả năng huy động tổng hợp giữa kiến thức, kĩ năng và thuộc tính cá nhân của giáo viên tiểu học để thực hiện có hiệu quả hoạt động dạy học môn Toán tiểu học.
1.2. Thành tố và biểu hiện của năng lực dạy học toán tiểu học
Năng lực dạy học Toán của giáo viên của giáo viên tiểu học bao gồm những thành thành tố sau:
- Một là, năng lực thực hiện chương trình giáo dục môn Toán tiểu học (Chương trình môn Toán tiểu học) có những biểu hiện sau:
+ Phân tích được mục tiêu, cấu trúc chương trình môn Toán;
+ So sánh, đối chiếu được nội dung chương trình;
+ Xác định được mối quan hệ giữa các mạch kiến thức trong chương trình;
+ Phân tích vị trí của các bài dạy trong sách giáo khoa;
+ Phân tích được dụng ý sơ phạm trong từng đơn vị kiến thức;
+ Xác định đúng mức độ, yêu cầu cần đạt của mỗi bài dạy.
- Hai là, năng lực thiết kế kế hoạch bài dạy Toán tiểu học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh có những biểu hiện sau:
+ Thiết kế được các loại kế hoạch bài dạy (bài mới, thực hành/luyện tập, ôn tập);
* Vận dụng linh hoạt phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học;
* Sử dụng được các phương tiện dạy học phù hợp với nội dung bài học;
* Thiết kế được các hoạt động dạy học;
+ Thiết kế được các hoạt động thực hành và trải nghiệm môn Toán;
* Khai thác và xây dựng được hệ thống các bài toán vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn;
* Thiết kế được các hoạt động thực hành và trải nghiệm toán học để giải quyết các vấn đề thực tiễn.
- Ba là, năng lực thực hiện kế hoạch bài dạy Toán tiểu học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh có những biểu hiện sau:
+ Cách diễn đạt ngôn ngữ trong dạy học Toán;
+ Hiểu học sinh và việc học Toán của học sinh;
+ Triển khai tốt các hoạt động dạy học Toán;
+ Tổ chức quản lí lớp học hiệu quả.
- Bốn là, năng lực kiểm tra, đánh giá trong dạy học Toán tiểu học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh có những biểu hiện sau:
+ Vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức, kĩ thuật kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kì trong dạy học môn Toán phát triển phẩm chất và năng lực học sinh;
+ Xây dựng công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh tiểu học về phẩm chất và năng lực;
+ Sử dụng và phân tích kết quả đánh giá trong dạy học môn Toán phát triển phẩm chất và năng lực.
2. Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
2.1. Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
2.1.1. Phương pháp hỏi – đáp/Phương pháp gợi mở vấn đáp
* Mô tả:
Dựa vào nội dung của một vấn đề trong bài học, giáo viên tổ chức cho học sinh đối thoại, hỏi đáp lẫn nhau, có thể đối thoại giữa giáo viên với học sinh hoặc giữa học sinh với nhau. Trên cơ sở trả lời hệ thống các câu hỏi để đưa ra những kết luận khoa học hoặc vận dụng vốn hiểu biết để tìm hiểu những vấn đề trong học tập. Phương pháp này thường được sử dụng phối hợp với các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác.
- Ưu điểm:
+ Vấn đáp là cách thức tốt để kích thích tư duy độc lập của học sinh, dạy học sinh cách tự suy nghĩ đúng đắn. Bằng cách này học sinh hiểu nội dung học tập hơn là học vẹt, thuộc lòng.
+ Gợi mở vấn đáp giúp lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học, làm cho không khí lớp học sôi nổi, sinh động, kích thích hứng thú học tập và lòng tự tin của học sinh, rèn luyện cho học sinh năng lực diễn đạt sự hiểu biết của mình và hiểu ý diễn đạt của người khác.
+ Tạo môi trường để học sinh giúp đỡ nhau trong học tập. Học sinh yếu kém có điều kiện học tập các bạn trong nhóm, có điều kiện tiến bộ trong quá trình hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
+ Giúp giáo viên thu nhận tức thời nhiều thông tin phản hồi từ phía người học, duy trì sự chú ý của học sinh; giúp kiểm soát hành vi của học sinh và quản lí lớp học.
- Hạn chế:
+ Nếu giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi không tốt, sẽ dẫn đến tình trạng đặt câu hỏi không rõ mục đích, đặt câu hỏi mà học sinh dễ dàng trả lời có hoặc không. Hiện nay nhiều giáo viên thường gặp khó khăn khi xây dựng hệ thống câu hỏi do không nắm chắc trình độ của học sinh vì vậy ngay sau khi đặt câu hỏi thường là nêu ngay gợi ý câu trả lời khiến học sinh rơi vào trạng thái bị động, không thực sự làm việc, chỉ ỷ lại vào gợi ý của giáo viên .
+ Khó kiểm soát quá trình học tập của học sinh (có nhiều tình huống bất ngờ trong câu trả lời, thậm chí câu hỏi từ phía người học, vì vậy giờ học dễ lệch hướng do câu hỏi vụn vặt, không nhất quán).
+ Khó soạn và xây dựng đáp án cho các câu hỏi mở (vì phương án trả lời của học sinh sẽ không giống nhau).
- Một số chú ý khi sử dụng:
+ Hệ thống câu hỏi cần đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu cần đạt;
+ Câu hỏi phải có dụng ý sư phạm, kích thích được sự tích cực suy nghĩ của học sinh.
+ Nếu không cần thiết, cần hanjn chế những câu hỏi có/không, đúng/sai (Trừ những trường hợp hạ thấp yêu cầu đối với những học sinh cá biệt, học sinh chậm tiến, học sinh chưa hoàn thành hoặc mức độ tiếp thu chậm).
2.1.2. Phương pháp dạy học có sử dụng phương tiện trực quan (Phương pháp trực quan)
* Mô tả:
+ Phương pháp dạy học trực quan là một phương pháp học sử dụng trực quan, trực quan là nguyên tắc cơ bản của lý luận giúp học sinh có thể hình thành khái niệm dựa trên cơ sở trực tiếp quan sát các vật, đồ dùng qua minh họa bằng tranh, ảnh, video. Đồ dùng đó chính là chỗ dựa giúp học sinh hiểu bản chất của kiến thức, là một phương tiện giúp các em hình thành khái niệm, nắm vững được các quy luật của sự phát triển xã hội.
+ Giáo viên sử dụng phương tiện trực quan như: tranh ảnh, vật thật, mô hình, … các phương tiện kỹ thuật dạy học trong, trước và sau khi sử dụng các tài liệu mới hay khi ôn tập để củng cố, thậm chí là hệ thống hóa kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo. Phương pháp trực quan thường sử dụng phối hợp với phương pháp hỏi – đáp/Phương pháp gợi mở vấn đáp. Qua đó, giúp học sinh quan sát một cách chủ động, có mục tiêu quan sát, nội dung quan sát cụ thể.
- Ưu điểm:
+ Phương pháp dạy học trực quan ở tiểu học mang lại những ưu điểm lớn. Đặc biệt đó là sự tiếp thu có tiến bộ của các học sinh, giúp bài giảng thêm sôi động, hấp dẫn.
+ Với cách dạy học trực quan, các đồ dùng phục vụ cho việc học được đặc biệt quan tâm, nhờ đồ dùng mà các học sinh có thể nhớ nhanh, nhớ lâu và nhớ rất kỹ bài giảng. Bên cạnh đó, đồ dùng trong các tiết học trực quan còn giúp phát triển khả năng quan sát cũng như tư duy và trí tưởng tượng cùng khả năng ngôn ngữ của học sinh.
+ Giúp học sinh dễ dàng cụ thể hoá các kiến thức trừu tượng, khó tiếp thu.
- Hạn chế:
+ Với các hình ảnh, video, phim ảnh đều là những thứ gây chú ý những nếu không biết cách sử dụng phù hợp sẽ khiến các em học sinh phân tán, giản sự chú ý. Điều này khiến các em không nắm được vấn đề trong bài học.
+ Đây là phương pháp dạy học đòi hỏi nhiều thời gian và các giáo viên lại cần cân nhắc, tính toán để phù hợp với thời lượng dạy.
+ Các hình ảnh, video, phim ảnh sẽ có cả những chi tiết ngoài lề, nhỏ lẻ và không liên quan tới bài học. Nếu không định hướng tốt các em học sinh có thể chỉ chú ý tới các chi tiết đó.
- Một số chú ý khi sử dụng:
Khi sử dụng phương pháp trực quan cần quan tâm đến việc sử dụng các phương tiện trực quan sau cho phù hợp, đúng phương tiện trực quan, đúng lúc, đúng thời điểm (Tập trung bộc lỗ rõ được những dấu hiệu bản chất của các mối quan hệ toán học, đặc điểm nhận thức của học sinh, tính thẩm mĩ, …).
2.1.3. Phương pháp thực hành
* Mô tả:
Luyện tập và thực hành củng cố, bổ sung, làm vững chắc thêm các kiến thức lí thuyết. Trong thực hành, người ta không chỉ nhấn mạnh vào việc học thuộc mà còn nhằm áp dụng hay sử dụng một cách thông minh cách tri thức để thực hiện các nhiệm vụ khác nhau. Vì thế, trong dạy học, bên cạnh việc cho học sinh luyện tập một số chi tiết cụ thể, giáo viên cũng cần lưu ý cho học sinh thực hành phát triển các kĩ năng.
Với phương pháp này:
+ Giáo viên xác định, đưa ra nội dung cụ thể để học sinh thực hành;
+ Giới thiệu và hướng dẫn cách thực hành;
+ Cho học sinh thực hành thông qua nhiều hình thức khác nhau (bài tập cá nhân, thực hành nhóm các nội dung thực hành, bài tập sách giáo khoa, vở bài tập, sách tham khảo, …);
+ Giáo viên nhận xét và kết luận kiến thức sau khi học sinh thực hành.
- Ưu điểm:
+ Đây là phương pháp có hiệu quả để mở rộng sự liên tưởng và phát triển các kĩ năng của học sinh.
+ Luyện tập, thực hành có hiệu quả trong việc củng cố trí nhớ, tinh lọc và trau chuốt các kĩ năng đã học, tạo cơ sở cho việc xây dựng kĩ năng nhận thức ở mức cao hơn.
+ Đây là phương pháp dể thực hiện và được thực hiện trong hầu hết các giờ học như môn Toán.
- Hạn chế:
+ Luyện tập và thực hành có xu hướng làm cho học sinh nhàm chán nếu giáo viên không nêu mục đích một cách rõ ràng và có sự khuyến khích cao; dễ tạo tâm lí phụ thuộc vào mẫu, hạn chế sự sáng tạo.
+ Do bản chất của việc nhắc đi, nhắc lại nên học sinh khó có thể đạt được sự lanh lợi và tập trung, dễ tạo nên sự học vẹt, đặc biệt là khi chưa xây dựng được sự hiểu biết ban đầu đầy đủ.
- Một số chú ý khi sử dụng:
+ Luyện tập và thực hành cần phải được tiến hành thường xuyên quá trình giảng dạy. Các bài tập luyện tập được nhắc đi nhắc lại ngày càng khắt khe hơn, nhanh hơn và áp lực lên học sinh càng mạnh hơn; áp lực trong luyện tập sẽ căng thẳng hơn trong bài tập thực hành. Tuy nhiên, áp lực không nên quá cao mà chỉ để vừa đủ để khuyến khích học sinh làm bài chịu khó hơn. Thời gian cho luyện tập thực hành cũng không nên kéo dài quá dễ gây nên sự nhạt nhẽo và nhàm chán.
+ Cần thiết kế các bài tập có sự phân hóa để khuyến khích mọi đối tượng học sinh đều tham gia thực hành luyện tập phù hợp với năng lực của mình. Cũng có thể tổ chức các hoạt động luyện tập, thực hành thông qua nhiều hoạt động khác nhau, kể cả việc tổ chức thành các trò chơi học tập nhằm làm cho học sinh hào hứng hơn, đồng thời qua các hoạt động đó, các kĩ năng của học sinh cũng được rèn luyện.
+ Giáo viên cần quan tâm đến kĩ thuật thực hành, cần hướng dẫn và giao nhiệm vụ cụ thể để học sinh thực hành.
+ Thường quyên quan tâm, theo dõi và hỗ trợ trong quá trình học sinh thực hành.
2.1.4. Phương pháp dạy học dựa trên hoạt động
* Mô tả:
+ Phương pháp học tập dựa trên hoạt động, giáo viên, phụ huynh hay người giám sát người học có thể hỗ trợ trong các hoạt động thực tế, chia sẻ và trao đổi các kinh nghiệm học tập, cũng như những bài học rút ra, tăng khả năng kết nối, và làm việc nhóm giữa nhiều đối tượng dạy và học khác nhau.
+ Phương pháp này thường được sử dụng phối hợp với một số phương pháp khác để hình thành kiến thức mới hoặc tổ chức luyện tập, ôn tập, …
+ Giáo viên đưa một vấn đề, một tình huống liên quan đến nội dung hoặc chủ đề học tập, học sinh trực tiếp thực hiện thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm dưới sự hỗ trợ của giáo viên, của học sinh, của phụ huynh học sinh.
- Ưu điểm:
+ Học sinh tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động học tập.
+ Tạo được sự tương tác tích cực giữa giáo viên với học sinh, giữa các học sinh với nhau.
+ Thông qua việc dạy học dựa trên hoạt động giúp học sinh rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ, thực hành, luyện tập, phân tích, tổng hợp các vấn đề liên quan nội học tập.
+ Học sinh tự tin trình bày quan điểm của cá nhân liên quan đến các tình huống, các nội dung, vấn đề học tập.
- Hạn chế:
+ Bước đầu học sinh gặp phải những khó khăn nhất định do chưa quen với phương pháp;
+ Ý thức tự học của một số học sinh chưa cao nên chưa thật sự chủ động trong việc tham gia các hoạt động.
- Một số chú ý khi sử dụng:
+ Mỗi nội dung cần liên hệ mật thiết với những dạng hoạt động: nhận dạng và thể hiện; hoạt động toán học phức hợp; hoạt động trí tuệ phổ biến toán học; hoạt động trí tuệ chung; hoạt động ngôn ngữ.
+ Những hoạt động cần phải tương thích với nội dung, chủ đề học tập.
+ Giáo viên cần phải thường xuyên giám sát, hỗ trợ và giúp đỡ học sinh trong quá trình hoạt động và trình bày kết quả hoạt động.
2.1.5. Phương pháp dạy học phát hiện vài giải quyết vấn đề
* Mô tả:
+ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học trong đó giáo viên tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác. Đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là "tình huống gợi vấn đề" vì "Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề";
+ Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra cho học sinh những khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có;
+ Phương pháp này thường được sử dụng phối hớp với các phương pháp khác để hình thành kiến thức mới cho học sinh.
+ Giáo viên đưa ra tình huống có vấn đề;
+ Hướng dẫn học sinh phân tích, đề xuất, đưa ra hướng giải quyết vấn đề;
+ Học sinh đưa ra nhiều giải pháp, tìm giải pháp đúng nhất để thực hiện;
+ Học sinh trình bày giải pháp đúng để giải quyết vấn đề giáo viên đưa ra;
+ Trên cơ sở đó, học sinh tìm hiểu sâu hơn về giải pháp và đưa ra các tình huống tương tự để giải quyết.
- Ưu điểm:
+ Phương pháp này góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo cho học sinh. Trên cơ sở sử dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có học sinh sẽ xem xét, đánh giá, thấy được vấn đề cần giải quyết.
+ Đây là phương pháp phát triển được khả năng tìm tòi, xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong khi phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh sẽ huy động được tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác, trao đổi, thảo luận với bạn bè để tìm ra cách giải quyết vấn đề tốt nhất.
+ Thông qua việc giải quyết vấn đề, học sinh được lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức.
- Hạn chế:
+ Phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức, phải có năng lực sư phạm tốt mới suy nghĩ để tạo ra được nhiều tình huống gợi vấn đề và hướng dẫn tìm tòi để phát hiện và giải quyết vấn đề;
+ Việc tổ chức tiết học hoặc một phần của tiết học theo phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có nhiều thời gian hơn so với các phương pháp thông thường.
- Một số chú ý khi sử dụng:
+ Cho HS phát hiện và giải quyết vấn đề đối với một bộ phận nội dung học tập, có thể có sự giúp đỡ của giáo viên với mức độ nhiều ít khác nhau. Học sinh được học không chỉ ở kết quả mà điều quan trọng hơn là cả quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề.
+ Các vấn đề/ tình huống đưa ra để học sinh xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầu như: Phù hợp với chủ đề bài học; phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh; Vấn đề/ tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của học sinh; vấn đề/ tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp cả hai kênh chữ và kênh hình hay qua tiểu phẩm đóng vai của học sinh; vấn đề/ tình huống cần có độ dài vừa phải; vấn đề/ tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề.
+ GV cần tìm hiểu đúng cách tạo tình huống gợi vấn đề và tận dụng các cơ hội để tạo ra tình huống đó, đồng thời tạo điều kiện để học sinh tự lực giải quyết vấn đề.
2.1.6. Phương pháp dạy học theo quan điểm lí thuyết kiến tạo
* Mô tả:
+ Lý thuyết kiến tạo đang là một trong những lý thuyết về dạy học vượt trội được sử dụng trong giáo dục. Lý thuyết này khuyến khích học sinh tự xây dựng kiến thức cho mình dựa trên những thực nghiệm cá nhân và áp dụng trực tiếp vào môi trường học tập của các em. Mỗi cá nhân học sinh là trung tâm của tiến trình dạy học, còn giáo viên đóng vai trò tổ chức điều khiển và là người đại diện cho tri thức khoa học chính thống, đóng vai trò trọng tài để thể chế hóa tri thức mới của bài học.
+ Phương pháp này thường được sử dụng phối hớp với các phương pháp khác để hình thành kiến thức mới cho học sinh.
+ Bước 1: Làm bộc lộ quan niệm của học sinh: Trong bước này giáo viên giúp học sinh hệ thống, ôn lại các kiến thức cũ có liên quan đến kiến thức mới bằng cách sử dụng các câu hỏi, các bài tập. Sau đó giáo viên hoặc học sinh sẽ nêu vấn đề (bài tập, thí nghiệm, câu hỏi, ..) từ đó tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ quan niệm của mình về vấn đề học tập.
Bước 2: Tổ chức điều khiển học sinh học sinh à từ đó rút ra kết luận chung cho cả lớp.
Bước 3: Tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức: Giáo viên tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề về lý thuyết cũng như thực tiễn qua đó giúp học sinh khắc sâu hơn kiến thức mới.
- Ưu điểm:
+ Tạo cơ hội cho HS phát triển các kỹ năng học tập trình bày các giải pháp, áp dụng thông tin của mình nhằm phát triển độ nhận thức của mình.
+ Là cách dạy học tích cực mang theo ưu điểm của dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm học sinh không chỉ nắm được tri thức một cách vững chắc mà còn biết cách tìm ra tri thức đó.
+ Là cách dạy học đón trước vùng phát triển gần nhất, dạy học gắn liền với phát triển
+ Học sinh được phát triển các kỹ năng giao tiếp, tìm kiếm và chia sẻ thông tin, hợp tác nhóm
+ Giúp học sinh được trải nghiệm, tiếp cận vấn đề, huy động nguồn tri thức, kinh nghiệm sử dụng nguồn tri thức dó là một cách hữu ích.
- Hạn chế:
+ Việc nhấn mạnh đơn phương việc học trong nhóm cần được xem xét Chỉ Có thể học tập có ý nghĩa những gì mà người ta quan tâm tuy nhiên cuộc sống cần cả những điều mà khi còn đi học tất cả mọi người không quan tâm.
+ Quan điểm cực đoan trong lí thuyết kiến tạo phủ nhận sự tồn tại của tri thức khách quan là không thuyết phục.
+Hạn chế trong thời gian tổ chức và chưa khai thác được triệt để tính chất của nhóm.
- Một số chú ý khi sử dụng:
+ Giáo viên cần nắm vững tri thức cơ sở của học sinh để đưa ra các yêu cầu học tập phù hợp;
+ Giáo viên cần dự đoán những cách thức giải quyết vấn đề trên cơ sở tri thức đã có sẵn của học sinh từ đó có hưỡng hỗ trợ học sinh khi gặp khó khăn.
2.2. Hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
2.2.1. Hình thức dạy học hợp tác theo nhóm
* Mô tả:
+ Hình thức dạy học hợp tác theo nhóm là hình thức dạy học giáo viên chia học sinh thành từng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nhiệm về một yêu cầu, nội dung học tập, được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người. Các hoạt động cá nhân riêng biệt được tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung, hoàn thành yêu cầu, nội dung học tập của giáo viên.
+ Hình thức dạy học này thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác để thực hiện hoạt động khám phá hình thành kiến thức mới, thực hành, ôn tập, …
+ Giáo viên chia lớp thành những nhóm nhỏ;
+ Giáo viên giao nhiệm vụ, yêu cầu cho từng nhóm nghiên cứu, thực hiện;
+ Học sinh hoàn thành nội dung, yêu cầu của giáo viên và đại diện nhóm trình bày trước lớp;
+ Học sinh nhận xét kết quả hoạt động của nhóm bạn;
+ Giáo viên nhận xét, tuyên dương, kết luận và chốt lại kiến thức học sinh cần tiếp thu.
- Ưu điểm:
+ Giúp quá trình tổ chức hoạt động dạy học của giáo viên đạt hiệu quả;
+ Các thành viên chủ động trong việc phân công nhiệm vụ. Vì đồng trang lứa nên dễ dàng chia sẽ quan điểm, cùng nhau xây dựng bài học trên tinh thần học hỏi lẫn nhau.
+ Học sinh chủ động học tập, tiếp thu kiến thức từ đó, kiến thức trở nên bền vững, sâu sắc và dễ nhớ hơn.
+ Phát huy được tinh thần hợp tác trong nhóm, rèn luyện năng lực tự chủ, tự học; giao tiếp, hợp tác; giải quyết vấn đề, sáng tạo; năng lực ngôn ngữ; tính toán, …Học sinh phát huy được các phẩm chất chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm, …
- Hạn chế:
+ Áp dụng hình thức dạy học theo nhóm ở tiểu học có thể gây ồn ào và khó kiểm soát vì lứa tuổi các em còn nhỏ.
+ Trong nhóm sẽ có những học sinh tích cực và tồn tại một vài học sinh có tâm lý ỷ lại vào các bạn, gây khó khăn trong việc đánh giá năng lực học sinh.
+ Đôi khi học sinh chỉ chú ý vào phần vấn đề bài học của nhóm mình mà quên đi những phần bài của nhóm khác khiến học sinh không tiếp thu đầy đủ kiến thức của toàn bộ bài giảng.
- Một số chú ý khi sử dụng:
+ Giáo viên cần chuẩn bị kĩ các phương tiên dạy học hỗ trợ: phiếu học tập, bảng phụ, bảng hỏi, …
+ Giáo viên cần đưa ra các yêu cầu nội dung hoạt động cụ thể, rõ ràng cho các nhóm, thời gian hoàn thành hoạt động, thời gian bắt đầu, kết thức hoạt động;
+ Giáo viên cần nắm vững trình độ, năng lực, tiềm năng của các nhóm;
+ Sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm để giải quyết vấn đề.
2.2.2. Hình thức dạy học cá nhân
* Mô tả:
+ Hình thức dạy học cá nhân là hình thức dạy học chú ý đến một cá thể học sinh.
+ Giáo viên đưa ra yêu cầu hoặc một hệ thống câu hỏi, cá nhân học sinh dựa vào sự hiểu biết, nghiên cứu của bản thân để giải quyết yêu cầu hoặc trả lời câu hỏi của giáo viên;
+ Học sinh nhận xét câu trả lời của bạn, bổ sung, điều chỉnh (nếu có);
+ Giáo viên nhận xét và kết luận kiến thức.
+ Hình thức dạy học này thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác để thực hiện hoạt động khám phá hình thành kiến thức mới, thực hành, ôn tập, …
- Ưu điểm:
+ Hình thức dạy học này cũng phù hợp với chương trình học tập của các lớp ghép, lớp có nhiều trình độ học sinh.
+ Thông qua giao việc cụ thể cho từng học sinh, buộc học sinh phải ự mình tích cực hoạt động và tự mình phát hiện ra kiến thức mới.
+ Giáo viên dễ dàng phân hoá từng đối tượng học sinh, phát huy tốt năng lực của học sinh hoàn thành tốt, hỗ trợ kịp thời những học sinh chưa hoàn thành.
+ Tạo được mỗi quan hệ gẫn gũi, thân mật giữa giáo viên với học sinh trên cơ sở tôn trọng nhân cách của học sinh.
+ Phát huy được năng lực, sở trường của từng học sinh, nâng cao được trình độ nhận thức và tiếp thu kiến thức cho học sinh.
- Hạn chế:
+ Trong một tiết học, khó có thể toàn bộ sử dụng hình thức dạy học này vì khó có thể đảm bảo hoàn thành nội dung bài dạy theo thời gian quy định.
+ Sử dụng liên tục hình thức này sẽ tạo ra sự nhàm chán cho học sinh.
- Một số chú ý khi sử dụng:
+ Giáo viên cần chủ ý đến năng lực và mức độ nhận thức của từng cá nhân học sinh để đưa ra những câu hỏi, yêu cầu sao cho phù hợp;
+ Xác định rõ động cơ học tập của học sinh, sở trường của mỗi cá nhân học sinh để đưa ra những câu hỏi, yêu cầu nhằm phát huy tối đa hứng thú học tập của học sinh;
+ Giáo viên cần bao quát lớp tốt, tránh tình trạng chỉ tập trung vào một vài cá nhân học sinh hoàn thành tốt, bỏ rơi những học sinh chưa hoàn thành cần được hỗ trợ.
2.2.3. Hình thức dạy học trải nghiệm
* Mô tả:
+ Hình thực dạy học trải nghiệm là hình thức giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia trải nghiệm thực tế, sau đó tổng kết lại kiến thức để tăng cường sự hiểu biết, phát triển kĩ năng, định hình lại các giá trị sống và phát triển tiềm năng cho học sinh.
+ Giáo viên lựa chọn nội dung cần tổ chức cho học sinh trải nghiệm.
+ Lựa chọn địa điểm và thời gian trải nghiệm;
+ Dự kiến hoạt đọng, kinh phí, nhân sự hỗ trợ trong hoạt động trải nghiệm (nếu có);
+ Tổ chức cho học sinh trải nghiệm thực tế;
+ Học sinh chia sẻ lại kết quả quan sát được qua trải nghiệm, liên hệ kết quả và những điều đã học được với tực tế.
+ Giáo viên nhận xét, chốt kiến thức và khuyến khích học sinh áp dụng những kĩ năng đã học được qua trải nghiệm vào thực tế.
- Ưu điểm:
+ Làm cho nội dung giáo dục không bị bó hẹp trong sách vở, mà gắn liền với thực tiễn đời sống xã hội;
+ Học sinh được trực tiếp trải nghiệm, chủ động quan sát, tìm tòi nghiên cứu và tiếp thu kiến thức mới;
+ Tạo được hứng thú học tập cho học sinh;
+ Thông qua trải nghiệm, rèn cho học sinh những kĩ năng cần thiết như: quan sát, phân tích, tổng hợp, trình bày kết quả và liên hệ thực tế;
+ Phát triển cho học sinh những năng lực tự chủ, tự học; giao tiếp, hợp tác; giải quyết vấn đề, sáng tạo; năng lực ngôn ngữ; tính toán, …Học sinh phát huy được các phẩm chất chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm, …
- Hạn chế:
+ Giáo viên tốn nhiều thời gian, công sức trong việc thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm;
+ Công tác quản lí và đảm bảo an toàn cho học sinh gặp khó khăn vì đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học hiếu động;
+ Mục tiêu quan sát, trải nghiệm của học sinh đôi khi dàn trải, không đảm bảo trọng tâm và nội dung trải nghiệm.
- Một số chú ý khi sử dụng:
+ Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo trước khi tổ chức cho học sinh trải nghiệm;
+ Giáo viên cần lựa chọn nội dung trải nghiệm cụ thể, gần gũi với học sinh và phù hợp với năng lực học sinh;
+ Thời gian trải nghiệm hợp lí, địa điểm trải nghiệm phù hợp, điều kiện trải nghiệm đầy đủ và đảm bảo an toàn tuyệt đối.
3.Nội dung và những yêu cầu cần đạt của chủ đề “Phép trừ có nhớ trong phạm 20 ”.
3.1. Nội dung của chủ đề
Theo chương trình Sách giáo khoa Toán lớp 2 của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, nội dung của chủ đề “Phép trừ có nhớ trong phạm vi 20 ” bao gồm các bài sau:
- Bài : Phép trừ có hiệu bằng 10 SGK Toán lớp 2 tập 1 trang 59
- Bài : 11 trừ đi một số SGK Toán lớp 2 tập 1 trang 60.
- Bài : 12 trừ đi một số SGK Toán lớp 2 tập 1 trang 62.
- Bài : 13 trừ đi một số SGK Toán lớp 2 tập 1 trang 64.
- Bài : 14;15,16,17 trừ đi một số SGK Toán lớp 2 tập 1 trang 65.
- Bài : Bảng trừ SGK Toán lớp 2 tập 1 trang 67.
3.2. Yêu cầu cần đạt của chủ đề “Phép trừ có nhớ trong phạm vi 20 ”
3.2.1.Bài:Phép trừ có hiệu bằng 10 :
* Yêu cầu cần đạt:
- Hệ thống các phép trừ trong phạm vi 20, có hiệu là 10.
- Vận dụng để tính toán và giải toán.
*Năng lực, phẩm chất:
- Năng lực giao tiếp, hợp tác: Trao đổi, thảo luận để thực hiện các nhiệm vụ học tập.
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Sử dụng các kiến thức đã học ứng dụng vào thực tế.
- Tư duy lập luận toán học, mô hình hóa toán học, giải quyết vấn đề toán học, giao tiếp toán học.
- Phẩm chất: Chăm chỉ học tập.
3.2.2. Bài : 11 trừ đi một số SGK Toán lớp 2 tập 1 trang 60.
* Yêu cầu cần đạt:
- Thực hiện được phép tính 11 - 5.
- Khái quát hoá được cách tín 11 trừ đi một số.
- Vận dụng:
- Thực hiện tính nhẩm 11 trừ đi một số (trừ qua 10 trong phạm vi 20).
- Tính toán trong trường hợp có hai dấu phép tính trừ để kiểm chứng cách tính 11Trừ đi một số.
- Giải quyết vấn đề đơn giản liên quan đến tính toán và nhận biết hình.
*Năng lực, phẩm chất:
- Năng lực giao tiếp, hợp tác: Trao đổi, thảo luận để thực hiện các nhiệm vụ học tập.
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Sử dụng các kiến thức đã học ứng dụng vào thực tế.
- Tư duy lập luận toán học, mô hình hóa toán học, giải quyết vấn đề toán học, giao tiếp toán học.
- Phẩm chất: Chăm chỉ học tập
3.2.3. Bài : 12 trừ đi một số SGK Toán lớp 2 tập 1 trang 62.
* Yêu cầu cần đạt:
- Thực hiện được phép tính 12 - 5.
- Khái quát hoá được cách tính 12 trừ đi một số.
- Vận dụng:
+Thực hiện tính nhẩm 12 trừ đi một số (trừ qua 10 trong phạm vi 20).
+Tính toán trong trường hợp có hai dấu phép tính trừ để kiểm chứng cách tính 12 trừ đi một số.
+ Giải quyết vấn đề đơn giản liên quan đến tính toán.
*Năng lực, phẩm chất:
- Năng lực giao tiếp, hợp tác: Trao đổi, thảo luận để thực hiện các nhiệm vụ học tập.
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Sử dụng các kiến thức đã học ứng dụng vào thực tế.
- Tư duy lập luận toán học, mô hình hóa toán học, giải quyết vấn đề toán học, giao tiếp toán học.
- Phẩm chất: Chăm chỉ học tập
3.2.4. BÀI : 13 trừ đi một số SGK Toán lớp 2 tập 1 trang 64.
* Yêu cầu cần đạt:
- Thực hiện được phép tính 13 - 5.
- Khái quát hoá được cách tính 13 trừ đi một số.
- Vận dụng:
+ Thực hiện tính nhẩm 13 trừ đi một số (trừ qua 10 trong phạm vi 20).
+ Tính toán trong trường hợp có hai dấu phép tính trừ để kiểm chứng cách tính 13 trừ đi một số.
*Năng lực, phẩm chất:
- Năng lực giao tiếp, hợp tác: Trao đổi, thảo luận để thực hiện các nhiệm vụ học tập.
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Sử dụng các kiến thức đã học ứng dụng vào thực tế.
- Tư duy lập luận toán học, mô hình hóa toán học, giải quyết vấn đề toán học, giao tiếp toán học.
- Phẩm chất: Chăm chỉ học tập
3.2.5 BÀI: 14;15,16,17 trừ đi một số SGK Toán lớp 2 tập 1 trang 65.
* Yêu cầu cần đạt:
- Thực hiện được phép tính 19 - 9.
- Khái quát hoá được cách tính 14, 15, 16, 17, 18 trừ đi một số.
- Vận dụng:
+Thực hiện tính nhẩm qua 10 trong phạm vi 20 và phân biệt đối với các trường hợp cụ thể.
+ Tính toán trong trường hợp có hai dấu phép tính trừ để kiểm chứng cách trừ qua 10 trong phạm vi 20.
- Giải quyết vấn đề đơn giản liên quan đến việc tính toán
*Năng lực, phẩm chất:
- Năng lực giao tiếp, hợp tác: Trao đổi, thảo luận để thực hiện các nhiệm vụ học tập.
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Sử dụng các kiến thức đã học ứng dụng vào thực tế.
- Tư duy lập luận toán học, mô hình hóa toán học, giải quyết vấn đề toán học, giao tiếp toán học.
- Phẩm chất: Chăm chỉ học tập.
3.2.6. Bài : Bảng trừ SGK Toán lớp 2 tập 1 trang 67.
Hệ thông hóa các phép trừ qua 10 trong phạin vi 20
-Vận dụng bảng trừ:
+Tính nhẩm.
+ So sánh kết quả của tổng, hiệu.
+ Làm quen với quan hệ giữa phép cộng và phép trừ qua các trường hợp cụ thể.
+ GQVĐ đơn giản liên quan đến số và phép tính.
*Năng lực, phẩm chất:
- Năng lực giao tiếp, hợp tác: Trao đổi, thảo luận để thực hiện các nhiệm vụ học tập.
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Sử dụng các kiến thức đã học ứng dụng vào thực tế.
- Tư duy lập luận toán học, mô hình hóa toán học, giải quyết vấn đề toán học, giao tiếp toán học.
- Phẩm chất: Chăm chỉ học tập
4. Soạn 02 Kế hoạch bài dạy và phân tích cơ hội phát triển năng lực dạy học toán tiểu học:
4.1. KẾ HOẠCH BÀI DẠY MÔN TOÁN LỚP HAI (Tiết thứ nhất)
BÀI: 12 TRỪ ĐI MỘT SỐ (Toán lớp 2 tập 1 trang 62)
I.MỤC TIÊU:
*Kiến thức, kĩ năng:
- Thực hiện được phép tính 12 - 5.
- Khái quát hoá được cách tính 12 trừ đi một số.
-Vận dụng:
+ Thực hiện tính nhẩm 12 trừ đi một số (trừ qua 10 trong phạm vi 20).
+ Tính toán trong trường hợp có hai dấu phép tính trừ để kiểm chứng cách tính 12 trừ đi một số.
+ Giải quyết vấn đề đơn giản liê
Lê Tấn Đức @ 10:43 10/08/2022
Số lượt xem: 205
- BÀI TẬP TỰ HỌC VỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI TOÁN (10/08/22)
- PHƯƠNG PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN (10/08/22)
- PHONG CÁCH TIẾNG VIỆT (10/08/22)
- PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC TOÁN (2) (10/08/22)
- NỘI DUNG ÔN TẬP VĂN HỌC THIẾU NHI (10/08/22)

a
Y KIẾN