SỐNG ĐỂ YÊU THƯƠNG !

Tài nguyên dạy học

IMAIL LIÊN HỆ

  • (letanduc1971@yahoo.com.vn)
  • (letanducts@gmail.com ĐT19367027)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    DANH NGÔN

    Đổi giao diện

    LINK...

    HỌC TIẾNG ANH TRỰC TUYẾN : http://learnenglisheaf.com/

    TẬP HUẤN SEQAP NGÀY 8.7.2014 - BVK

    HĐ TỪ THÁNG 03-05-15

    TẬP HUẤN SEQAP HÈ 15-16

    TOÀN BỘ PHIM CỦA WEBSITE

    https://www.youtube.com/my_videos?o=U
    Gốc > LỊCH SỬ VIỆT NAM >

    BÁC TÔN ĐỨC THẮNG

    tonducthang

    Tôn Đức Thắng

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

     
     
     

    22 tháng 9 năm 1969 – 30 tháng 3 năm 1980
    10 năm, 190 ngày

    Hồ Chí Minh

    Nguyễn Hữu Thọ (quyền chủ tịch)

     

    1955 – 1960

    Bùi Bằng Đoàn

    Trường Chinh

    Đảng Cộng sản Việt Nam

    20 tháng 8 năm 1888
    Mỹ Hòa Hưng, Long Xuyên

    30 tháng 3 năm 1980
    Hà Nội

    Đoàn Thị Giàu

    Tôn Đức Thắng (20 tháng 8 năm 1888 - 30 tháng 3 năm 1980), còn có bí danh Thoại Sơn và được người dân Việt Nam gọi với tên thân mật là Bác Tôn, là Chủ tịch nước thứ hai và cuối cùng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là chủ tịch nước đầu tiên của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

    Ông được Hồ Chí Minh ca ngợi là "gương mẫu đạo đức cách mạng, suốt đời cần kiệm liêm chính, suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân." [1]

    Tiểu sử

    Theo những thông tin được công bố chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam[2] thì tiểu sử của Tôn Đức Thắng gồm những sự kiện tiêu biểu như sau:

    Tôn Đức Thắng sinh ra ở làng (Nam) Mỹ Hòa Hưng, tỉnh Long Xuyên, nay thuộc tỉnh An Giang, thân phụ ông tên là Tôn Văn Đề, còn thân mẫu là bà Nguyễn Thị Di.

    Ông học Trường Kĩ nghệ Viễn Đông (1906-1909), làm công nhân Nhà máy Ba Son của Hải quân PhápSài Gòn, tổ chức công nhân bãi công (1912). Vào năm 1913, ông sang Pháp làm công nhân ở Tu-lông (Toulon). Năm 1914, ông bị bắt lính sang Pháp, làm thợ máy cho một đơn vị Hải quân Pháp, tham gia phản chiến chống lại cuộc can thiệp của Đế quốc Pháp vào nước Nga Xô Viết tại Hắc Hải năm (20-4-1919), treo cờ đỏ trên chiến hạm tại đây để ủng hộ Cách mạng Nga[3].

    Năm 1920, ông về nước, xây dựng cơ sở công hội (tiền thân của Công đoàn Việt Nam), vận động công nhân đấu tranh, tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân Ba Son từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1925, quyết tâm trì hoãn việc sửa chữa chiếc Đô đốc hạm Jules Michelet trong đoàn tàu chiến Pháp đang trên đường sang Trung Quốc [4]. Năm 1927, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Ủy viên Ban Chấp hành Kỳ bộ Nam Kỳ, bị thực dân Pháp bắt ở Sài Gòn (1928), kết án 20 năm tù khổ sai, đày ra Côn Đảo (1930-1945). Năm 1930, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Côn Đảo.

    Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến, giữ chức Bí thư Xứ ủy Nam Bộ (1945). Ông là Phó ban Thường trực Quốc hội (1946-1955), Quyền Trưởng ban (1948-1955) rồi Trưởng ban Thường trực Quốc hội (1955-1960), tương đương Chủ tịch Quốc hội sau này. Ông là Đại biểu Quốc hội liên tục các khóa I-VI.

    Về mặt chính quyền, ông là Bộ trưởng Bộ Nội vụ (tháng 5 năm 1947-tháng 11 năm 1947); Thanh tra đặc biệt toàn quốc (tháng 8 năm 1947), Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1960-1969), Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1969-1980).

    Về mặt Đảng, ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1947, và khóa II đến khóa IV.

    Về mặt đoàn thể, ông là Phó hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (1946-1951), Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Mặt trận Liên Việt (1951-1955), Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955-1977), Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1977-1981). (Kế nhiệm ông tại Mặt trận là ông Hoàng Quốc Việt).

    Nghiên cứu và nhận định trái chiều

     


    Ngôi nhà sàn kỷ niệm thời niên thiếu của Chủ tịch Tôn Đức Thắng trên cù lao Ông Hổ (Mỹ Hòa Hưng, Long Xuyên).

    Theo ông Christoph Giebel [5], giáo sư khoa Sử tại Đại học Washington, Hoa Kỳ và là tác giả cuốn sách nghiên cứu về ông Tôn Đức Thắng ("Tiền bối tưởng tượng của những nhà Cộng sản Việt Nam: Tôn Đức Thắng và chính trị của lịch sử và ký ức" - Imagined Ancestries of Vietnamese Communism: Ton Duc Thang and the Politics of History and Memory[6]) cho rằng "không có bằng chứng cho thấy ngay từ thời rất trẻ, thậm chí trước cả thời Thế chiến thứ nhất, ông Tôn đã hoạt động rất tích cực trong các hoạt động cách mạng tại Sài Gòn", ông Tôn không bị bắt lính sang Pháp năm 1914 mà được tuyển mộ. Trong sự kiện ở Hắc Hải năm 1919, Giebel "tin rằng ông Tôn Đức Thắng không có mặt trên bất kì con tàu nào của Pháp liên quan vụ binh biến ở Hắc Hải", bộ máy tuyên truyền đã dùng hình ảnh ông Tôn cắm cờ trên một trong những con tàu ở Hắc Hải để kết nối cách mạng Việt Nam với Cách mạng tháng Mười Nga. Trong cuộc đình công ở Ba Son năm 1925, theo Giebel không phải là một cuộc đình công chính trị với mục đích chống đế quốc, và cũng không "giam chân" được chiến hạm Pháp trên đường đến Trung Quốc[7].

    Tưởng niệm

    Ông được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng năm 1958, nhâp dịp ông 70 tuổi và là người đầu tiên được tặng Huân chương này.

    Cũng trong dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 90 của ông, đoàn Chủ tịch Quốc hội Mông Cổ đã trao tặng Chủ tịch Tôn Đức Thắng Huân chương Xukhe Bato - huân chương cao quý nhất của Mông Cổ [cần dẫn nguồn].

    Ông cũng là người Việt Nam đầu tiên nhận được giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lenin do Chính phủ Liên bang Xô viết trao tặng[8][9].

    Tên ông được đặt cho một đường phố ở thành phố Odessa, Ukraina vì liên quan đến sự kiện phản chiến ở Hắc Hải [cần dẫn nguồn], và cũng là tên của một trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều con đường ở Việt Nam cũng được đặt tên theo tên ông.

    Tên gọi Tôn Đức Thắng cũng được đặt cho một giải thưởng cấp thành phố của Thành phố Hồ Chí Minh để tôn vinh những công nhân, kỹ sư có thành tích đặc biệt trong lao động và sản xuất.

    Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông (20/8/1888 - 20/8/1988), Nhà nước Việt Nam đã cho thành lập một bảo tàng với tên gọi ban đầu là "Nhà trưng bày cuộc đời và sự nghiệp Chủ tịch Tôn Đức Thắng" tại Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó được đổi tên thành Bảo tàng Tôn Đức Thắng, bảo tàng này trước đây là tư dinh của Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng chính quyền Việt Nam Cộng hòa[10].

    Hiện nay, Khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức ThắngAn Giang đã được Thủ tướng chính phủ Việt Nam xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt.

     

    TÔN ĐỨC THẮNG

    Chủ tịch nước (1969-1981)

     
    Truyền thống quật cường của quê hương đất nước đã sớm hun đúc lòng căm thù giặc và tinh thần yêu nước của người thanh niên Tôn Đức Thắng, cuộc sống và ý thức giai cấp công nhân đã tiếp bước rèn luyện người thanh niên ấy trở thành một chiến sĩ cách mạng kiên cường và lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam.

    Bác Tôn sinh ra trên mảnh đất Long Xuyên của Nam Bộ bất khuất và đau thương bị thực dân Pháp xâm chiếm hơn 20 năm. Những năm tuổi thơ, Bác Tôn sống ở quê nhà và đi học trường trong tỉnh. Học xong bậc tiểu học, Bác tạm biệt gia đình đi lên Sài Gòn – mở đầu cuộc đời hoạt động cách mạng không mệt mỏi vì Tổ quốc, vì nhân dân của Bác.

    Năm 1906, Sài Gòn đón nhận người thanh niên mười tám tuổi đầy tâm huyết Tôn Đức Thắng. Hạt giống cách mạng giờ đây được ươm giữa lòng đô thành Sài Gòn đầy bóng quân xâm lược. Bác Tôn không chọn con đường tiến thân nào khác, mà quyết định đến ngay với giai cấp công nhân.

    1.       

    TÓM TẮT CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

    Bí danh: Thoại Sơn

    Ngày sinh: 20/8/1888

    Ngày mất: 30/3/1980

    Quê quán: Xã Mỹ Hoà Hưng, TP Long Xuyên, Tỉnh An Giang

    Thành phần gia đình xuất thân: Nông dân

    Ngày vào Đảng: 1930

     

     

    TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

    • Từ 1906-1909: Học Trường Kĩ nghệ Viễn Đông, làm công nhân Nhà máy Ba Son của Hải quân Pháp ở Sài Gòn;
    • Năm 1912: Tổ chức cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son
    • Từ 1914 đến 1918: Tham gia hoạt động cách mạng từ chiến tranh thế giới, làm công nhân quân giới ở quân cảng Toulon (miền Nam nước Pháp) và làm thợ máy trên chiến hạm France.
    • 20/4/1919: Dưới sự lãnh đạo của Công hội Pháp đã tham gia phản chiến và treo cờ đỏ trên chiến hạm để ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga, tham gia cuộc binh biến của binh sĩ Pháp ở mặt bể Hắc Hải, sau đó bị trục xuất khỏi nước Pháp.
    • Năm 1920: Lập Công hội bí mật ở Sài Gòn, đây là tổ chức Công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam.
    • Năm 1927, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và trực tiếp lãnh đạo phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn.
    • Tháng 12/1928: Bị địch bắt ở Sài Gòn.
    • Ngày 26/7/1929: Bị kết án 20 năm khổ sai.

    Đêm ngày 2 rạng sáng ngày 3/7/1930, con tàu Armand Roussean của thực dân Pháp lặng lẽ rời Sài gòn đưa Tôn Đức Thắng và một số cán bộ, quần chúng yêu nước đày ra Côn Đảo. Kể từ đó cho ngày ngày 18/8/1945, khi Côn Đảo được giải phóng, người tù mang số tù 5289-TF cùng với lời ghi chú trong phiếu quản lý “Phần tử nguy hiểm” đã chứng tỏ nghị lực phi thường, ý chí kiên cường và lòng trung thành vô hạn với CM. 15 năm ở địa ngục trần gian Côn Đảo là quãng thời gian thử thách lớn nhất trong cuộc đời hoạt động CM của Tôn Đức Thắng nhưng đó cũng là quãng đời đầy vinh quanh khi Bác thực sự biến nhà tù đế quốc thành trường học CM.

    •  Năm 1930:  Lập chi bộ nhà tù lãnh đạo anh em trong tù đấu tranh, được Xứ ủy Nam Kỳ thừa nhận là chi bộ đặc biệt và là đảng viên từ đó. Bằng những kinh nghiệm đã có trong tổ chức Công hội bí mật ở Sài Gòn, Tôn Đức Thắng đã bàn với những người cộng sản thành lập Hội những người tù đỏ làm hạt nhân lãnh đạo, tập hợp tù nhân, tạo sức mạnh đoàn kết chống lại chế độ lao tù.

    Nhiều Đảng viên cộng sản trong đó có Tôn Đức Thắng bị kết án khổ sai cũng bị giam chung với tù thường phạm ở Banh I, nơi chuyên giam giữ tù lưu manh, trộm cắp, đã nhiều lần mang án. Đây là thủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp mượn bàn tay của những tên tù anh chị nhằm tiêu diệt những người cộng sản.

    Là một người đã có kinh nghiệm trong tổ chức Công hội bí mật ở Sài Gòn, Tôn Đức Thắng đã bàn và cùng với những người cộng sản thành lập Hội những người tù đỏ làm hạt nhân lãnh đạo, tập hợp tù nhân, tạo nên sức mạnh đoàn kết chống lại chế độ lao tù.

    Trong một lần liên lạc của Hội, bọn gác ngục đã phát hiện được Tôn Đức Thắng và phạt giam ở Hầm xay lúa. Hầm là địa ngục của địa ngục, một hình thức cực hình đối với tù nhân, địch gọi là “Khu trừng giời”. Với âm mưu thâm độc của địch muốn dùng tay anh chị để hành hạ và giết Tôn Đức Thắng, hiểu được ý đồ này, Tôn Đức Thắng đã tập hợp một số đồng chí cộng sản cũng bị đày ở Hầm xay lúa bàn cách nắm lấy quyền lực để cải thiện đời sống và điều kiện làm việc cho những bạn tù ở Hầm: bỏ lối cai quản người tù bằng roi vọt, sắp xếp, phân công để tất cả mọi người làm việc theo điều kiện sức khỏe, người yếu thì sàng gạo, đóng bao, người khỏe thì xay và khuân vác thóc, kíp đứng cối thì bố trí thêm người, thay nhau người làm, người nghỉ.

    Năm 1934, sau khi rời khỏi Hầm xay lúa, Tôn Đức Thắng làm việc tại Sở Lưới, vừa sửa máy vừa lái canô. Sở lưới, với vai trò của Tôn Đức Thắng trở thành trung tâm giao liên quan trọng của tổ chức Đảng ở Côn Đảo và là đầu mối để tổ chức cho cán bộ, đảng viên bị tù ở Côn Đảo trốn về hoạt động trong đất liền.

    Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, nhanh chóng đánh bại đạo quân Quan Đông hơn một triêu lính tinh nhuệ của Nhật. Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật chính thức đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh không điều kiện. Đảng ta kịp thời chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân cả nước vùng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Sau khi nghe lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập do một đài nước ngoài phát lại, toản đảo vui mừng không xiết. Sáng 23/9/1945, tàu Phú Quốc cùng 25 chiếc thuyền bầu đã nhổ neo đưa 1800 tù chính trị trở về đất liền. Chiếc canô vừa được sửa lại mang tên Giải phóng do chính Tôn Đức Thắng lái đưa một số đồng chí trong Ban lãnh đạo trở về. Tuy gian nan, vất vả nhưng chiều ngày 2/3/9/1945 mọi người đã cập bến Đại Ngãi, tỉnh Sóc Trăng trong sự đón tiếp nồng nhiệt của Đảng bộ và nhân dân địa phương.

    • Từ 8/1945: Ở Côn Đảo trở về Nam Bộ làm Uỷ viên Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ phụ trách về vấn đề lương thực và vũ khí.
    • Ngày 6/1/1946: Trúng cử là đại biểu Quốc hội khóa đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tham gia phái đoàn Quốc hội sang  Pháp.
    • Ngày 1/5/1948, Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi thi đua yêu nước, và đến ngày 11/6/1948 chính thức phát động cuộc vận động thi đua yêu nước. Đây là thời kỳ Tôn Đức Thắng có nhiều cố gắng và đạt kết quả tốt trong việc làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước trở thành động lực của cuộc kháng chiến kiến quốc.

    Nhân dịp đồng chí Khu trưởng khu VIII Nam Bộ ra báo cáo với Trung ương và Bác Hồ về tình hình cuộc kháng chiến, Tôn Đức Thắng đã đến thăm Đoàn và trao đổi thân tình: “Mặc dầu tham gia vào cuộc lãnh đão chung ở ngoài này – một nhiệm vụ rất lớn, nhưng lúc nào tôi cũng nghĩ tới đồng bào Nam Bộ, lúc nào cung nghĩ tới chiến trường Nam Bộ là nơi đồng chí, đồng bào đương kháng chiến gian lao. Tôi đã nhiều lần đề nghị với Bác Hồ, với Trung ương cho trở về chiến trường để cùng với đồng chí, đồng bào Nam Bộ tham gia kháng chiến nhưng Bác Hồ chưa đồng ý (…). Đề nghị đồng chí, đề nghị đoàn về báo cáo lại với Xử ủy và với đồng báo Nam Bộ rằng, Tôn Đức Thắng là người con của nhân dân Nam Bộ, lúc nào cũng nghĩ tới đồng bào Nam Bộ, nghĩ tới xứ sở mà mình đã sinh ra và đã từng hoạt động”. Trong thời gian này, Ban Thường trực Quốc hội đã phân công các ủy viên đi các địa phương ở Liên khu III và liên khu Việt Bắc động viên nhân dân kháng chiến, Tôn Đức Thắng được giữ chức Quyền trưởng Ban.

    • Từ 1951: Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Tại Đại hội Đảng lần thứ II được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Ông là Đại biểu Quốc hội liên tục các khóa I-VI.
    • Tháng 9/1955: Được bầu làm Trưởng ban Thường vụ Quốc hội.
    • Từ 1960: Được giữ các chức vụ: Phó trưởng Ban thường trực Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Tổng Thanh tra toàn quốc, Trưởng Ban thường trực Quốc hội, Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (tháng 7/1960). Tại Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
    • Ngày 23/9/1969 đến 1981: Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12-1976) của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương.
    • 30/3/1980: Qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.

    Tuy không có nền tảng giáo dục hoàn hảo nhưng ông được coi là một trong những hình tượng của Cách mạng và Nhà nước Việt Nam. Tuy là Ủy viên Trung ương từ năm 1951 cho tới khi mất nhưng ông chưa bao giờ được bầu vào Bộ Chính trị.

    VÀI GIAI THOẠI VỀ BÁC TÔN  

    Thiếu tướng Tô Ký kể chuyện Bác Tôn

    Anh Ba Tô Ký tới thăm chú Hai Thắng vào một ngày chủ nhật tại Hà Nội. Bấy giờ vào khoảng ba giờ chiều. Anh Ba rất ngạc nhiên khi thấy chú Hai ở trần, chỉ mặc quần đùi, tay cầm mỏ-lết, loay hoay sửa dây sên chiếc xe đạp. Đây là xe đạp riêng của chú Hai Thắng mà sáng nào chú Hai cũng đạp một vòng hoặc ở Vườn Bách Thảo, hoặc ở Hồ Tây. Đi thăm bạn bè ở gần nhà, chú Hai Thắng cũng đạp xe. Vừa là thể dục thể thao, vừa là tiết kiệm công quỹ (không phải dùng command-car tốn xăng).

    Chuyện chú Hai Thắng tự tay sửa xe hay các vật dụng trong nhà, không phiền tới anh em thợ là chuyện ai cũng biết. Anh Ba Tô Ký "sà" xuống ngồi kế bên xem chú Hai sửa xe. Bỗng anh Ba thấy trong hộp đựng dụng cụ "cờ-lê, mỏ-lết" có mấy chiếc huân chương các hạng nằm bên cạnh các kềm búa. Anh khẽ kêu lên:

    - Chú Hai, sao lại có mấy cái này trong hộp đồ nghề?

    Bác Tôn vẫn tiếp tục sửa cho xong sợi dây sên, chậm rãi nói:

    - Có mấy cái này (chỉ kềm búa) mới có mấy cái đó (chỉ các huân chương).

    Chỉ một câu vắn tắt đó, chú Hai Thắng đã giúp anh Ba Tô Ký nhận ra chân lý: "Lao động tạo ra tất cả - mà đỉnh cao là vinh quang".

    Chuyện này anh Ba Tô Ký thường kể với bạn bè và kết luận: "Bác Tôn đúng là một người thợ".

     

    Hãy nghe bác sĩ Trần Hữu Nghiệp kể về chuyện Bác Tôn sửa Pháp văn của bác sĩ Nghiệp thì mới biết cái vốn tiếng Pháp của Bác Tôn.

    * Bác sĩ Nghiệp nhận Bác Tôn là thầy

    Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp may mắn được làm "ngự y" (bác sĩ riêng) cho Bác Tôn trong chuyến công du sang nước Đức và Liên Xô vào cuối năm 1955 và đầu năm 1956. Đi Cộng hòa Dân chủ Đức là để dự lễ chúc thọ Chủ tịch Vin-hem-pích 80 tuổi. Đi Liên Xô là để nhận Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lénine.

    Bác Tôn nhờ bác sĩ Nghiệp viết giùm bài phát biểu ngắn để Bác đọc tại lễ chúc thọ Chủ tịch nước Đức.

    Bác sĩ Nghiệp tốt nghiệp Y khoa Bác sĩ tại Paris, nói và viết tiếp Pháp dễ dàng như nói và viết tiếng mẹ đẻ.

    Chừng đưa bản thảo cho Bác duyệt thì lạ lùng làm sao, bác sĩ Nghiệp bị Bác Tôn sửa văn. Và sửa rất chính xác. Đó là câu "Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình" Bác sĩ Nghiệp viết "Le peuple Vietnamien aimant la paix" Bác Tôn dùng bút đỏ sửa "aimant la paix" ra "épris de paix". Cụm từ "épris de paix" hay hơn "aimant la paix" rất nhiều. Từ đó bác sĩ Nghiệp suy tôn Bác Tôn là "sư phụ".

    Cũng như bác sĩ Nghiệp, ai cũng biết Bác Tôn có bằng Tiểu học (Cerrtificat d'Eựtudes Primaires Complémentaires Indochinoises - CEPCI) rồi học bốn năm Trường Máy trước khi đi làm thợ ở hãng Ba Son (Tây gọi là Arsenal tức Hải quân Công xưởng). Vậy mà trình độ Pháp văn của Bác Tôn "ăn trùm" vốn liếng tiếng Pháp của bác sĩ Trần Hữu Nghiệp đã học Pháp văn từ lớp chót lên tới tú tài là 13 năm, cộng với bảy năm học Đại học Y khoa, tổng cộng là hai mươi năm trường.

     

    Anh Ba Khiêm kể về Bác Tôn ở Côn đảo

    Côn Đảo là trường mẫu giáo đồng thời là trường đại học chính trị cho anh em tù bị thực dân Pháp đày ra hòn đảo ngục tù này. Trong giới chính trị phạm có câu nói vui "Lycée Khám Lớn, đại học Côn Nôn" (Lycée tiếng Pháp có nghĩa là trung học).

    Trong tù có nhiều lớp học. Lớp dạy văn hóa, đặc biệt là sử - địa, lớp dạy chính trị. Lớp dạy chính trị có thêm vài ban như ban sưu tầm (sách báo), ban sao chép (để phát cho nhiều phòng), đồng chí Phạm Văn Đồng dạy chính trị, ban sưu tầm có Bác Tôn, anh Ba Khiêm (Ung Văn Khiêm), ban sao chép có anh Sáu Tây (Nguyễn Văn Tây)

    Bác Tôn làm ở Sở Lưới, nơi có mấy chiếc chaloupe (sà lúp) và canot (ca nô). Chúa đảo Bouvier đưa Bác Tôn về đây sau khi đọc hồ sơ, thấy người tù số 5289 từng là trưởng máy tốt nghiệp Trường Máy Sài Gòn, làm thợ hãng Ba Son và có thâm niên hai năm trưởng máy trên chiến hạm France của Quân cảng Toulon. Lão phệ Bouvier muốn sử dụng tay nghề của người tù lừng danh nầy. Lão có lý phần nào vì sà-lúp hư, ca-nô hỏng, người tù 5289 đều sửa tốt và nhanh. Nhưng lão không ngờ đã tạo điều kiện cho nhà cách mạng cao tuổi phục vụ đắc lực phong trào học chính trị trong khám. Nhờ lái ca-nô, Bác Tôn thường gặp các thủy thủ Pháp trên các tàu viễn dương tuyến Marseille - Sài Gòn. Qua đó Bác xin báo Le Paria, báp L'Humanité, bí mật giao cho anh Ba Khiêm giấu trong đòn gánh chuyển về trại giam. Anh Ba Khiêm kể chuyện này và xem Bác Tôn là người tiếp tế sách báo chính trị cho anh em chính trị phạm thời ấy (những năm 1932 - 1935).

    Lái Ca-nô Cứu tù vượt ngục

    Vẫn theo lời kể của anh Ba Khiêm, mỗi khi có tù vượt ngục, chúa đảo cho lính lên ca-nô đuổi theo. Người lái là tên tù số 5289. Nhưng nếu bọn lính recherche (rờ sẹt) tinh ý sẽ thấy không lần nào chúng bắt được tù vượt đảo nếu ca nô do người tù số 5289 lái. Nhiều lần chúng bỏ ống dòm thấy bạn bè của tù nhấp nhô trước mắt. Bọn chúng hí hửng sắp có tiền thưởng và sẽ được lên hương với chiên công bắt được tù vượt ngục của biển khơi. Nhưng chúng đã mừng quá sớm. Ca nô đang chạy ngon trớn bỗng khẹt khẹt rồi bốc khói đen kịt. Chúng quay lại hỏi tài xế. Người tù 5289 đang hì hục tháo máy, dũa bougie hay mở bộ phận lọc dầu hút cặn. Loay hoay sửa đến mồ hôi hột. Chừng máy nổ tốt thì than ơi đêm đã xuống tối đen. Không còn thấy bóng dáng chiếc bè kia đâu! Vậy là đành dậm chân chắc lưỡi quay về tay không. Có đứa sanh nghi, nhung làm sao dám chê tài lái ca nô của người thợ máy nổi tiếng từ quân cảng Toulon tới Sài Gòn!

    Chưa có ai hỏi trong mười sáu năm ở Côn Đảo và trong mấy năm làm ở Sở Lưới, Bác Tôn đã cứu bao nhiêu đồng chí đồng đội vượt trên Biển Đông.

    Theo lời kể của đồng chí Nguyễn Văn Trí – người có dịp chung sống với Bác Tôn trong một thời gian khá dài tại Côn Đảo

    Một cách xóa bỏ thành kiến hay nhất

    Trong nhà giam, có một đồng chí vì có phạm sai lầm nên bị một số đồng chí khác thành kiến. Đồng chí này đem chuyện đó phàn nàn với Bác Tôn.

    Bác giải thích:

    -         Việc thành kiến như vậy, thường là do sự ấu trĩ của hai bên. Nhưng về phía người bị thành kiến nên kiểm điểm xem mình có sai lầm gì không, hoặc việc làm đúng mà thái độ không tốt khiến cho người ta có thành kiến với mình. Về phía anh em, thành kiến với đồng chí là không đúng. Muốn xóa bỏ hết thành kiến, chỉ có một cách: Anh nỗ lực hoạt động cho cách mạng với tất cả nhiệt tình của mình. Các đồng chí kia cũng hăng hái làm cách mạng. Đôi ba năm sau, chậm là năm, mười năm, hai bên đều tiến bộ cả: hai bên sẽ đoàn kết thêm hơn và câu chuyện thành kiến trở thành không đáng kể. Đó là một cách giải quyết có hiệu quả nhất.

    Những phút nghiêm khắc xét mình

    Trong nhà tù, thường có những lúc Bác Tôn đi đi lại lại, trầm lặng. Một hôm, có đồng chí hỏi Bác:

    -         Anh suy nghĩ gì đó?

    Bác trả lời:

    -         Kiểm điểm lại trong đời hoạt động, tôi có gặp rất nhiều người trong giới lao động, kể cả lao động ngoại quốc. Trong số đó có rất nhiều người tốt. Vậy mà có người chưa được tôi tuyên truyền gì cả, hoặc có, nhưng không thấm vào đâu. Có người đã giác ngộ rồi mà tôi chưa tìm mọi cách để giúp đỡ họ trở thành đảng viên tốt. Tôi rất ăn năn, vì như vậy là mình thiếu tinh thần trách nhiệm đối với cách mạng. Xét cho cùng, mình hãy còn thiếu một nhiệt tình cách mạng đầy đủ.

    Triết lý chơi cờ tướng của Bác Tôn

    Trong lúc ở tù, Bác Tôn hay đánh cờ tướng.

    Mặc dù đánh với ai, hễ thấy đối phương đi hớ nước nào là Bác chỉ cho, và ai muốn hoàn nước nào cũng được. Phần Bác, Bác suy nghĩ rất kỹ, và đi thì rất quyết tâm đi, không bao giờ hoàn.

    Thấy Bác rộng lượng, anh em thường trêu cho vui. Năm ba người vào một phía, vừa đánh vừa la, vừa trêu tức. Vậy mà Bác không hề cáu, không giận ai bao giờ.

    Hỏi Bác, Bác trả lời:

    -         Tôi đánh cờ để học tập, để rèn luyện chớ không cốt ăn thua với anh em. Đời tối đã có nhiều lần làm rồi mới biết sai, nói rồi mới biết lỡ. Những sơ sót ấy không phải vì mình kém khôn ngoan, mà là do thiếu thận trọng. Vì vậy, tôi đánh cờ để tập tính thận trọng. Phải tính toán hết nước, nhưng nếu trí thông minh và sức tính toán của mình chỉ đến nước ấy thôi, đành chịu vậy.

    Nguồn: http://www.ctct.hcmut.edu.vn/?q=node/92

     

    VỀ THĂM QUÊ BÁC TÔN  

    Tôi còn nhớ rất rõ hai câu thơ của Chế Lan Viên trong bài thơ Tiếng hát con tàu của tập thơ Ánh sáng và phù sa mà tôi rất thích:

    Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

    Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn

    Và lúc vừa đặt chân đến mảnh đất Mỹ Hoà Hưng (cù lao ông Hổ) có dòng sông Hậu hiền hoà ngày đêm chảy mãi như tuần hành cùng thời gian để canh giữ, bảo vệ ngôi nhà gỗ với mái lợp ngói ống, nằm giữa vườn cây trái xanh tươi của vùng đất này. Tôi lại càng hiểu rõ và thấm thía hơn ý nghĩa của hai câu thơ ấy. Quả thật, lúc lớp tôi quyết định đi thăm và ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc nói chung và cuộc đời Bác Tôn nói riêng, tôi không có bao nhiêu cảm xúc và sự mường tượng chính xác về khu di tích này. Bởi lẽ tôi rất ít cơ hội được đi tham quan, thăm viếng một di tích hay danh lam thắng cảnh nào.

    Thật bất ngờ khi tận mắt nhìn thấy, chính đôi chân chạm đến, tôi mới nhận ra rằng nó thật tuyệt diệu! Bao trùm lên khu di tích là vẻ nghiêm trang, cao rộng song cũng thật tuyệt với những nét đẹp trầm lặng bởi lẩn khuất đâu đó cái khí thiêng của dân tộc. Trong một thoáng, bất chợt tôi cảm tưởng rằng mình đang ở nơi nào ấy thật khác xa với thế giới ngoài kia - ồn ào, náo nhiệt - dẫu chỉ cách nhau có một cánh cổng và một bức tường. Bỗng dưng lòng tôi dậy lên một cảm giác lạ lùng, nó vừa háo hức lại vừa bâng khuâng khó diễn tả được?

    Thế nhưng, tôi không thể không thừa nhận cái cảm nhận thích thú của tôi khi đến đây, khu di tích này đã để lại trong tôi một tình cảm khó quên và giờ thì nó đã trở thành một kí ức mà mỗi lần giở ra tôi không khỏi bồi hồi, xúc động. Lúc này đây, tôi ngồi lại cảm nhớ về chuyến tham quan hôm ấy trong phút chốc, tất cả như ùa về, những kiến thức như còn mới rất mẻ và sống động làm sao! Cánh cổng di tích Bác Tôn như mở cửa cuộc ngược dòng thời gian đi vào quá khứ để nhớ về Bác.

    Những con đường lát đá trải dài, những hàng dương cao vút đâm thẳng lên bầu trời, những hàng liễu rũ dọc bờ hồ đầy thi vị mà cũng buồn vời vợi, không khỏi làm cho người ta có một chút ngậm ngùi, xốn xang. Im lặng, bình thản, tôi đi bên cạnh mọi người bước vào đền thờ - nơi đặt bức tượng của người anh hùng dân tộc Tôn Đức Thắng, niềm tự hào của người dân An Giang. Nhưng tâm trí tôi như một cuộc rượt đuổi nối đuôi nhau theo giai điệu của dòng lũ cảm xúc cứ từng đợt dâng trào không thôi.

    Tôi như người vừa thoát khỏi quá khứ quay về thực tại, khi tiếng của ngưới hướng dẫn viên dừng lại, chị như hát một bài ca bất tận say sưa không biết mỏi về con người vĩ đại - chủ tịch Tôn Đức Thắng. Trong ngữ điệu trầm bổng lúc như thúc giục, lúc như tâm tình to nhỏ dịu dàng thương mến. Thật xúc động vừa nhẹ nhàng, thanh thoát vừa truyền cảm du dương. Hình như đó chính là tất cả chân tình, mọi cảm xúc yêu thương, kính trọng, thương nhớ, nuối tiếc... mà cô muốn truyền đạt về Bác đến với tất cả mọi người có mặt ngày hôm ấy. Cả khu đền đều vang vọng và tràn ngập hình ảnh của Bác - một người anh hùng trung cang, anh hùng và đầy trí tuệ. Bác như đang hiện diện ở đây hiện hữu, có thật, đang dắt tay các đồng chí, cùng mọi người bàn bạc cho cuộc chiến đấu mới. Cuộc đời Bác là những sự trải nghiệm của những năm đấu tranh, giành giật từng giây từng phút giữa sự sống và cái chết.

    Chưa bao giờ tôi cảm thấy sự yên ắng và tôn nghiêm đến thế. Tự đáy lòng, tôi kính phục và biết ơn con người này biết bao với sự hy sinh, lòng nhân ái, cái tính kiên cường, bất khuất của Bác; thêm vào đó là sự xen lẫn của nỗi đau, sự mất mát, niềm nuối tiếc không nguôi.

    Lúc này đây, ngôi đền như đắm mình vào quá khứ, và con người hiện hữu ở đó thì chạy theo suy ngẫm của mỗi người không ai nói với ai bất cứ điều gì nhưng đều có chung một ý nghĩ tưởng nhớ về con người anh hùng, người chủ tịch tài ba Tôn Đức Thắng. Người có một cái tên thật gần gũi và bình dị mà mọi người vẫn thường gọi "Bác Tôn". Hai tiếng ấy làm tôi chực nghẹn ngào. Cái tiếng "Bác" thân thương làm sao! Cái tên "Tôn"cũng thật giản dị và gần gũi xiết bao! Tiếng gọi thiêng liêng và tôn kính ấy dù gọi bao nhiêu lần đi nữa vẫn làm cho tôi xúc động!

    Như vẫn còn đây mà thật ra đã không còn nữa, Bác đã ra đi bình lặng, ra đi mà lòng vẫn còn mang nặng tình nhà nợ nước, sống và chết điều luôn chiến đấu hết mình vì sự nghiệp cách mạng, con người Việt Nam:

    Người quả thật có một trái tim lớn, trái tim của đất nước...

    Bài thuyết trình của chị hướng dẫn viên kết thúc, làm mọi người sực tỉnh song mọi cảm xúc thăng hoa ấy vẫn còn đọng lại khiến tất cả bùi ngùi luyến nhớ. Bước xuống bậc thềm sau cùng, tôi ngoái lại nhìn lại một lần nữa, đền thờ vẫn đứng đó - lặng lẽ, nghiêm nghị trong cái nắng vàng buổi sớm tôi bất chợt cảm thấy bình yên lạ.

    Mặc dù vậy, đó không phải là tất cả của khu di tích này, trong nó vẫn còn nhiều điều thú vị. Và điều thú vị ấy như thế nào còn tuỳ vào cảm nhận của mỗi người; riêng tôi thì đó là không khí tĩnh lặng, cái vẻ trang nghiêm cùng với nhiều điều bất ngờ của các di vật lưu trữ nơi này: sống động, khốc liệt, hiện thực...

    Cả cảnh vật cũng mang cho người ta cảm giác khác lạ: một cây cầu nhỏ bắc ngang bờ hồ nhỏ, những vòm cây kiểng được chăm chút, cắt tỉa gọn gàng, khéo léo tỉ mỉ. Vừa bước vào nơi lưu giữ những kỉ niệm về chủ tịch Tôn Đức Thắng từng dòng rung cảm xáo trộn lẫn lộn dâng trào lên trong tôi: từ những bức tranh, những bức hình nộm rất sống động về toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của chủ tịch Tôn Đức Thắng. Rồi chiếc xe đạp cũ kĩ nằm trong tủ kiếng, một đôi dép râu cũ, một ngôi nhà bằng gỗ hết sức đơn sơ. . .

    Và đôi chân tôi bị trói chặt trước bức tranh miêu tả lại cảnh của người tù côn đảo. Tôi cảm thấy sự hãi hùng và ghê sợ bao trùm vây bủa lấy tôi. Tôi tự hỏi "Cuộc sống đấy ư?". Con người bị gông cùng, bị đày đoạ, bị đánh đập, ức hiếp hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần, lưỡi hái của tử thần luôn chực chờ đón lấy. Vậy mà trong hình ảnh đó không để lại cho người ta một sự cam chịu và thoái lui, ngược lại trong đôi mắt của người tù gầy còm ấy là một ý chí phấn đấu chịu đựng để chiến đấu để đánh gục kẻ thù, sự hy vọng được chấp cánh bay theo con đường lý tưởng, ước mơ của mình.

    Thật không dễ có thể dứt đôi mắt mình rời khỏi bức tranh đó. Tôi cảm thấy mình thật may mắn khi được sinh ra và lớn lên trong cảnh thái bình, yên vui; không phải đổ máu và hy sinh, rơi những giọt nước mắt mất mát, đau thương, cũng không phải chia ly như cuộc chia lìa của những người nông dân trong thơ Chính Hữu, hay cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ...

    Dẫu vậy, ở mức chừng mực nào đó, hình ảnh tàn khốc của chiến tranh vẫn ám ảnh các thế hệ trẻ ngày sau, và tôi cũng vậy. Tôi biết nỗi đau ấy quả không dễ gì khoả lấp, thời gian không thể bù đắp và chữa trị vết thương của trái tim. Bức tranh đó đã gợi lên trong tôi nhiều hình ảnh và cảm xúc, tôi hình dung lại viễn cảnh và tinh thần của con người sống trong hoàn cảnh chiến tranh ngày xưa: người ta sẵn sàng rời khỏi gia đình, vợ con, làng quê, bỏ cái cuốc, cái cày, cái rựa, cái bừa con trâu để lên đường cầm cây súng, lái xe tăng, thiết giáp, tháo mìn... đánh giặc mặc cho chết chóc, sốt rừng, đứng giữa chiến tuyến sống và chết, cái sợi chỉ hạnh phúc mong manh như một sợi tơ mành căng ngang giữa bầu trời sao lung linh nhưng đầy bom và đạn.

    Nhưng khó khăn đó, trở ngại đó, thử thách đó không làm khó được họ, đối với họ sống là chiến đấu còn chết là vinh quang. Tôi thấy mình nhỏ bé làm sao! Lại càng khâm phục, ngưỡng mộ con người có trái tim cao thượng và ấm áp tình người này. Mọi vật xung quanh dường như cũng theo người im lặng theo đuổi ý nghĩ riêng của mỗi người. Và tôi đã không thể quên ngôi nhà gỗ lợp ngói ống ấy, nó hết sức bình thường chẳng có nhiều đáng giá. Thế nhưng đó là cả một kho tàng quý báu rất đáng giá đối với những ai biết yêu quý những giá trị tinh thần của dân tộc mình. Trong ngôi nhà đó trong lời bình dẫn của người hướng dẫn viên ta sẽ cảm thấy được đâu đó trong từng thước tấc của ngôi nhà đều mang đậm dấu ấn và hơi ấm của Người.

    Mỗi câu chuyện về Bác, về gia đình Bác điều làm cho người ta khâm phục đồng thời là sự mến yêu, trân trọng. Vậy nên ai cũng phải chạnh lòng khi đến thắp nén hương thăm viếng người dưới mộ, những người thân thuộc của Bác Tôn và như vậy cũng đã thắp nén hương cho Bác vậy. Cả không gian yên ắng, tôi đứng đó và triền miên trong suy tưởng. Khói của nhang trầm vẫn cứ nghi ngút bay.

    Nếu trước đây, tôi chưa hiểu nhiều về Bác, người con của Mỹ Hoà Hưng vùng đất An Giang này thì giờ tôi đã hiểu biết rõ hơn, sâu sắc hơn nhiều. Tôi tự hào vì mình cũng là một người con của miền đất An Giang, nơi có vị lãnh tụ tài ba, giỏi giang, anh dũng.

    Tôi đã thu nhận được ở chuyến đi rất nhiều điều: từ kiến thức học tập cho đến những kinh nghiệm, vốn sống, và cả sự bồi dưỡng cảm xúc, cảm nhận riêng bản thân. Điều quan trọng hơn trong chuyến đi này, tôi biết đâu là giá trị thật, là vĩnh hằng, là sự sống mãi của một con người. Người ta thường nói, thời gian là người công bằng nhất. Tôi thấy đúng quả là thế, chỉ có thời gian mới phân định được đâu là giá trị tồn tại mãi mãi minh chứng cho nó là hình ảnh của người thanh niên "Ba Son" - Tôn Đức Thắng vẫn mãi sống trong lòng người Việt.

    Tôi mong một ngày nào đó tôi sẽ trở lại đây một lần nữa để được nghe kể về Bác với tất cả tâm trạng quý mến như thế. Để tôi có thể nhìn lại quá khứ và nhìn vào hiện tại, về tôi, người của thế kỷ hôm nay.

    Nguồn: http://www.ctct.hcmut.edu.vn/?q=node/92

    bhbt

     

    Đồng chí Tôn Đức Thắng, người bạn chiến đấu thân thiết của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại  

    ĐỒNG CHÍ TÔN ĐỨC THẮNG,
    NGƯỜI BẠN CHIẾN ĐẤU THÂN THIẾT
    CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI,
    VỊ CHỦ TỊCH LÂU NĂM NHẤT
    CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

    Phạm Thế Duyệt *

    Tôi không có may mắn như nhiều đồng chí khác là được sống và làm việc gần Bác Tôn. Là lớp hậu sinh, tôi chỉ được nhìn thấy Bác Tôn cùng Bác Hồ trên Lễ đài Quảng trường Ba Đình trong các ngày lễ lớn và lần đầu tiên vinh dự gặp Bác tại Đại hội lần thứ IV Công đoàn toàn quốc, năm 1978.

    Song với nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó : Làm Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam và hiện nay là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi có điều kiện thuận lợi và dành nhiều thời gian tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Bác - người lãnh tụ của mình trong công tác Dân vận - Mặt trận của Đảng.

    Như chúng ta đã biết : Bác Tôn sinh ngày 20-8-1888 trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước, tại Cù Lao Ông Hổ, tổng Bình Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

    Vào thời điểm đó, thực dân Pháp đã mở rộng cuộc xâm lược ra toàn cõi Việt Nam và cũng là thời điểm mà phong trào yêu nước của nhân dân ta phát triển mạnh mẽ ở khắp ba kỳ nhằm chống lại cuộc xâm lược của thực dân Pháp.

    Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của người thanh niên Tôn Đức Thắng. Ngay khi còn là học sinh của Trường Bách nghệ Sài Gòn, cùng với việc học giỏi nhất trường (1), Bác Tôn còn là "người chỉ huy" nhiều cuộc bãi khóa để phản đối sự đàn áp dã man của thực dân Pháp đối với phong trào nông dân ở nhiều nơi.

    Tốt nghiệp Trường Bách nghệ với điểm tối ưu (20/20), Bác Tôn gia nhập hàng ngũ giai cấp công nhân Việt Nam và làm việc tại xưởng sửa chữa tàu thủy Ba Son. Chính tại đây, ở tuổi 24, Bác Tôn đã lãnh đạo cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son thắng lợi, ghi một dấu ấn đậm nét đầu tiên trong quá trình hoạt động cách mạng của mình.

    Làm thủy thủ trên các tàu viễn dương, đi tới nhiều nước, ở nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều lớp người có mầu da và tiếng nói khác nhau, cũng như Bác Hồ, Bác Tôn nhận thức ra một điều là : ở đâu, người lao động cũng là người cùng khổ, bị bóc lột, đàn áp đến thậm tệ. Tinh thần yêu nước nồng cháy trong Bác được nâng lên thành tình yêu giai cấp, tình đoàn kết quốc tế thiết tha. Sự kiện người thanh niên Việt Nam Tôn Đức Thắng tham gia cuộc binh biến của hải quân Pháp ở Hắc Hải năm 1919, để ủng hộ và bảo vệ Cách mạng Tháng Mười Nga, là một minh chứng cụ thể về tình đoàn kết quốc tế cao cả. Nó đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử phát triển và nâng cao mối quan hệ hợp tác và hữu nghị Việt - Xô sau này.

    Do tham gia cuộc binh biến lịch sử đó, Bác buộc phải rời Pháp trở về nước. Bác Tôn thành lập tổ chức Công hội nhằm tập hợp, đoàn kết, bảo vệ quyền lợi giai cấp công nhân, làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống lại sự áp bức, bóc lột của bọn đế quốc và bè lũ tay sai của chúng.

    Năm 1925, Bác Tôn tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Aái Quốc sáng lập. Sự kiện đó đánh dấu bước chuyển biến tư tưởng có tính chất quyết định từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin của Bác. Từ đó, tạo điều kiện cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào phong trào công nhân Sài Gòn do Bác Tôn tổ chức và lãnh đạo, nhanh chóng nâng cao trình độ tổ chức, trình độ tự giác của giai cấp công nhân, thúc đẩy cuộc đấu tranh ngày càng phát triển. Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam đã khẳng định : Các tổ chức công hội mà Bác Tôn là người sáng lập là những tổ chức tiền thân của Công đoàn Việt Nam có vai trò quan trọng trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam vào những năm đầu cách mạng vô sản ở nước ta.

    Đọc cuốn "Sơ lược lịch sử Côn Đảo" do Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo ấn hành cho thấy, Bác Tôn là một trong những đảng viên cộng sản lớp đầu tiên bị kẻ địch giam cầm ở đây lâu nhất.

    Ròng rã gần 17 năm trời bị đọa đầy trong ngục tù đế quốc, với bao cực hình vô cùng dã man, bọn thực dân, đế quốc không lay chuyển nổi ý chí kiên trung, bất khuất của Bác. Ngược lại, chúng càng làm cho khí phách của người cộng sản lớp tiền bối lan tỏa và nêu gương cho các thế hệ kế tiếp, cho mọi người dân Việt Nam yêu nước noi theo. Cũng chính tại Côn Đảo, Bác đã tham gia thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở đó và tích cực tham gia đấu tranh chống chế độ lao tù hà khắc của thực dân Pháp.

    Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, theo sự chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Nam Bộ cử đoàn đại biểu ra đón Bác Tôn cùng các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng trở về đất liền. Tại Hội nghị cán bộ toàn xứ Nam Kỳ họp ngày 15-10-1945, Bác Tôn và các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng... được bầu vào Xứ ủy. Giữa năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương đón Bác Tôn ra Hà Nội. Từ đó, Bác Tôn và Bác Hồ luôn luôn sát cánh bên nhau - một hình ảnh tiêu biểu cho đoàn kết Bắc - Nam, để cùng Trung ương Đảng, Chính phủ lo việc nước. Với uy tín lớn lao trong Đảng, trong nhân dân và phẩm chất cách mạng, đạo đức trong sáng, Bác Tôn đã được giao nhiều trọng trách : Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác lần lượt đảm nhận các chức vụ : Tổng Thanh tra của Chính phủ, Quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua ái quốc Trung ương, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Liên Việt toàn quốc (từ 7-3-1951 đến 10-9-1955), Hội trưởng Hội Hữu nghị Việt Nam - Liên Xô, liên tục là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa II đến lúc Bác ra đi.

    Hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng là 20 năm Bác Tôn liên tục được đại diện các tầng lớp nhân dân suy tôn làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (từ 10-9-1955 đến 2-1977) và


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Tấn Đức @ 08:53 22/06/2012
    Số lượt xem: 827
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    QUÊ HƯƠNG ( Giáp Văn Thạch)

    Quê hương là chùm khế ngọt – Cho con trèo hái mỗi ngày-Quê hương là đường đi học-Con về rợp bướm vàng bay –Quê hương là con diều biết-tuổi thơ con thả trên đồng-Quê hương là con đò nhỏ-Êm đềm khua nước ven sông-quê hương là cầu tre nhỏ -Mẹ về nón lá nghiên che-Quê hương là đêm trăng tỏ-Hoa cau rụng trắng ngoài thềm-Quê hương mỗi người chỉ một-Như là chỉ một mẹ thôi-Quê hương nếu ai không nhớ-Sẽ không lớn nỗi thành người

    SÁCH DANH NGÔN CỦA BẠN

    :

    HẠT GIỐNG TÂM HỒN

    LÊN VÀ XUỐNG

    PHIM TƯ LIỆU TOÀN BỘ CHƯƠNG TRÌNH TRUNG THU NĂM 2015-2016

    CÁC HOẠT ĐỘNG TDTT - CA MÚA NHẠC NĂM HỌC 2016 - 2017

    allowfullscreen=""> allowfullscreen="">